Blog
Kẽm rất quan trọng với sự phát triển của trẻ
Thứ ba, 02 Tháng 10 2012 08:47
Các yếu tố vi chất rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em và một trong những vi chất rất quan trọng đó là Kẽm. Nếu trẻ bị thiếu kẽm sẽ khó phát triển chiều cao và dễ bị thiểu năng sinh dục, ngoài ra kẽm còn đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tật, giúp tăng cường hệ miễn dịch hay giúp tăng cường khả năng khứu giác. Kẽm có nhiều trong hải sản Kẽm rất quan trọng đối với tầm vóc và sức khỏe con người Tổng lượng kẽm trong cơ thể vào khoảng 2,5g kẽm, 90% kẽm có trong nội bào, trong đó 30% trong xương và 60% trong cơ. Nồng độ của kẽm khá cao trong các cơ quan: mắt, tuyến tiền liệt, thận, gan, tụy và tóc. Dịch lỏng cơ thể chỉ chứa lượng nhỏ kẽm, trong máu có 0,9mg/lít. Ở người trưởng thành, hàm lượng kẽm trong cơ thể là 20 mg/kg thể trọng. Trong thời kỳ cơ thể đang tăng trưởng và phát triển ở tuổi thiếu niên, hàm lượng kẽm tăng gấp 1,5 lần. Khi đó nếu thiếu kẽm, cơ thể chậm phát triển, trẻ em không lớn lên được. Ở phụ nữ mang thai, kẽm được huy động từ cơ thể người mẹ sang thai nhi, nên hàm lượng kẽm trong máu của thai phụ có thể giảm đến 50%. Các nghiên cứu cho thấy: kẽm tác động đến hơn 200 enzym (men) của cơ thể, trong đó có nhiều enzym đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp protein, nên có tác động rất lớn đến các quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Kẽm có các vai trò: điều hòa quá trình chuyển hóa acid nucleic, ảnh hưởng đến sinh trưởng của tế bào và hình thành sẹo. Điều tiết sự chuyển hóa các hormon như insulin, gustin, chất phát triển thần kinh. Điều hòa các tế bào máu. Điều hòa hoạt động của tuyến tiền liệt nên khi thiếu kẽm, trẻ em bị thiểu năng sinh dục, người lớn bị vô sinh. Kẽm giúp mắt chúng ta nhìn tinh hơn, nên khi thiếu kẽm, mắt nhìn kém đi. Kẽm tác động đến thần kinh trung ương, người hôn mê thường bị thiếu kẽm. Kẽm có tác động quan trọng lên hormon tăng trưởng (GH), hormon sinh dục testosteron… Tác động của kẽm lên sự tăng trưởng chiều cao có một cơ chế rất phức tạp: qua enzym và hormon, khôi phục tình trạng suy giảm tiêu thụ năng lượng, tiết kiệm năng lượng, khôi phục và tăng cường chức năng tiêu hoá, chức năng miễn dịch, làm giảm nguy cơ mắc bệnh nhiễm khuẩn, khôi phục và làm ổn định giấc ngủ ở trẻ em… Kẽm tích trữ trong gan. Gan điều hòa kẽm trong cơ thể, huy động kẽm tham gia cơ chế bảo vệ cơ thể chống lại stress, nóng, lạnh, mệt mỏi… Phát hiện cơ thể thiếu kẽm Một người đang khỏe mạnh bình thường, khi bị thiếu kẽm, sẽ có các dấu hiệu: táo bón, bình thường đi ngoài ngày một lần, hay bị táo bón có khi mấy ngày mới đi ngoài một lần, phân khô, đóng cục, đi ngoài rất khó; tổn thương da, chậm liền sẹo khi bị thương, rụng tóc; rối loạn thị giác, nhìn kém; suy yếu hệ miễn dịch, hay bị bệnh nhiễm khuẩn như mụn nhọt, ho, viêm phế quản, viêm tai mũi họng; phát triển các khối u; rối loạn về tâm thần kinh. Ở phụ nữ mang thai, thiếu kẽm sẽ gây ra các triệu chứng nghén như: chán ăn, buồn nôn, nôn, mất ngủ… dẫn đến sự thiếu hụt năng lượng cung cấp cho bào thai phát triển, trẻ sinh ra bị thiếu cân và dễ sinh non; mẹ thiếu sữa. Nếu nặng, trẻ bị suy dinh dưỡng, lùn, chậm dậy thì, thiểu năng sinh dục và chậm phát triển tâm thần vận động. Nghiên cứu của Tiến sĩ Neil Ward và cộng sự cho thấy: thai phụ có hàm lượng kẽm càng thấp thì trọng lượng trẻ sinh ra càng thấp và vòng đầu càng nhỏ. Nghiên cứu khác thì cho biết: vòng đầu nhỏ khi sinh có liên quan đến sự phát triển của toàn bộ hệ thần kinh trung ương và DNA của não bộ, hậu quả là có thể dẫn đến chức năng của hệ thần kinh trung ương bị khiếm khuyết và chậm phát triển tâm thần. Do hệ miễn dịch phát triển trong giai đoạn bào thai nên thiếu kẽm ở thai phụ sẽ dẫn đến sự suy giảm chức năng miễn dịch ở đứa con. Muốn cao lớn phải “ăn” đủ kẽm Nhu cầu kẽm thay đổi theo tuổi và trạng thái sinh lý: trẻ 1-9 tuổi cần 10mg mỗi ngày; trẻ 10-12 tuổi là 10-15mg; trẻ lớn hơn và người lớn là 15mg; phụ nữ mang thai là 20mg; bà mẹ cho con bú là 25mg. Hàm lượng kẽm trong sữa non của thai phụ mới sinh rất cao 20mg/ lít. Sữa mẹ chứa nhiều kẽm nhất, vượt xa sữa bò, sữa đậu nành và các loại sữa công thức. Mặt khác kẽm trong sữa mẹ được hấp thu tốt hơn và có sinh khả dụng cao hơn so với kẽm trong sữa bò. Các bệnh: viêm dạ dày, ruột, viêm túi thừa, xơ gan cũng làm giảm hấp thu kẽm. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, muốn bổ sung đầy đủ kẽm cho cơ thể thì phải ăn những loại thực phẩm giàu kẽm như: hàu, trai, sò, thịt nạc đỏ (lợn, bò), ngũ cốc thô và các loại đậu. Các bà mẹ cần cho con bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi để con có đủ kẽm để phát triển cơ thể. Có thể tăng cường kẽm bằng các loại thực phẩm bổ sung kẽm, tiện dụng nhất là sữa. Ngoài ra, để tăng hấp thu kẽm hãy thường xuyên bổ sung vitamin C. Phụ nữ mang thai nên ăn đầy đủ các bữa ăn và đa dạng các loại thực phẩm, nhất là thức ăn có nguồn gốc động vật. Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2,5kg phải bổ sung kẽm từ tháng thứ 2 sau sinh. Khi trẻ có các biểu hiện thiếu kẽm, bạn cần đưa bé đến bác sĩ chuyên khoa để khám và điều trị kịp thời. Theo: Meyeucon.org {fcomment}
Biện pháp nào giúp bé hết biếng ăn ?
Thứ hai, 01 Tháng 10 2012 16:33
Ngày 01/10/2012 Câu hỏi: Bác sĩ cho cháu hỏi bé nhà cháu năm nay tròn 3 tuổi mà mới được 13kg, mỗi ngày cháu ăn được 3 bát cơm và 2 lần uống sữa tươi Mộc châu loại 110ml, mỗi lần ăn thì rất lâu mới cho cháu ăn hêt lượng thức ăn đó. Xin hỏi bác sĩ có biện pháp nào giúp bé hết biếng ăn và ăn lâu không? Người hỏi: Chị Phượng - Hưng Yên.
Đọc thêm...Bé gái 7.5 tháng tuổi nặng 7kg cao 68cm. Như vậy có bị còi xương không?
Thứ hai, 01 Tháng 10 2012 14:11
Con gái em hiện nay được 7.5 tháng cân nậng 7kg cao 68cm. Cháu sinh ra nặng 3kg, tháng 01 3.8kg, thang 2 4.4kg, thang 3 4.9 kg, thang 5 5.9kg, thang 6 6.5kg, thang 7 7kg. Chế độ an của cháu như sau: 6h sáng 90ml sữa, 8h : 90ml, 10h nửa bát bột, 12h 120ml sữa, 15h30 nửa bát bột, 17h một hộp váng sữa, 19h 90ml sữa, 21h 90ml sữa và đi ngủ. Chế độ ăn của bé như vậy có ít không. Bé hiện tại đã mọc 6 cái răng biết bò và ngồi khá vững, nhưng hay bị ra mồ hôi sau gáy vậy bé có bị còi xương hay không.
Đọc thêm...Trẻ không cao vì ăn quá nhiều đồ ngọt
Thứ hai, 01 Tháng 10 2012 11:09
Một trong những nguyên nhân khiến con bạn phát triển chiều cao không bình thường đó chính là việc để trẻ ăn quá nhiều đồ ngọt và chất tinh bột. Các chuyên gia cho biết rằng, ở nước ngoài, đặc biệt là các nước Tây Âu, trẻ em thường được khám định kỳ để theo dõi “tuổi xương” từ 1 đến 2 lần trong năm. Tuy nhiên ở Việt Nam thì việc đi khám sức khỏe tuổi xương cho trẻ còn rất hạn chế. Các chuyên gia về sức khỏe cho biết rằng, việc đi khám tuổi xương có thể giúp các bậc phụ huynh biết được xương và sự phát triển chiều cao của trẻ có bình thường hay không. Ở trẻ nhỏ, sự phát triển của xương có thể được chia ra làm nhiều giai đoạn. Khi trẻ được 2 tuổi, đó là kết thúc giai đoạn thứ nhất. Giai đoạn thứ hai là khi trẻ bắt đầu dậy thì. Ở trẻ sơ sinh (trước 2 năm đầu) và trẻ vị thành niên (từ 10 đến 15 tuổi), việc theo dõi sự phát triển xương rất quan trọng vì lúc này, nếu phát hiện ra những điều bất thường trong sự phát triển xương của trẻ thì người lớn có thể nhanh chóng khắc phục để hạn chế những rủi ro tới mức thấp nhất. Theo kết quả nghiên cứu các chuyên gia về sức khỏe trẻ em cho biết, trung bình mỗi năm trẻ sẽ cao được khoảng 4cm. Vì vậy, nếu thấy sự phát triển chiều cao của con nhanh hoặc chậm hơn thì đó cũng là những dấu hiệu bất thường cho biết sự phát triển xương của trẻ không được ổn định. Lúc này, người lớn cần phải tìm được nguyên nhân bằng cách đưa trẻ đi khám và giải quyết những vấn đề về xương cho bé một cách kịp thời. Có nhiều trường hợp, dù cha mẹ biết rằng con mình phát triển chiều cao không đều, nhưng vì chủ quan nghĩ rằng điều đó không hề quan trọng nên đã bỏ qua. Chính sự chủ quan này đã dẫn đến những hậu quả khó lường về xương cho trẻ sau này. Một trong những biểu hiện rõ nhất của tuổi dậy thì đó chính là sự phát triển chiều cao ở trẻ. Người lớn cũng có thể phát hiện con mình dậy thì sớm thông qua việc giám sát tuổi xương. Ăn quá nhiều cũng hạn chế sự phát triển chiều cao ở trẻ Một trong số những nghiên cứu đang chú ý nữa đó chính là việc để trẻ ăn quá nhiều đồ ngọt, chất tinh bột cũng sẽ hạn chế sự phát triển chiều cao. Ăn quá nhiều những loại thực phẩn này sẽ khiến cơ thể tiết ra một loại hormone làm ức chế sự phát triển xương của trẻ em. Chính vì thế, người lớn không nên để con mình ăn vặt quá nhiều, ăn những đồ ngọt hoặc thức ăn nhanh nếu muốn con có sự phát triển chiều cao toàn diện. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho biết, trẻ đi ngủ muộn cũng sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao. Bình thường, tuyến yên của cơ thể sẽ tiết ra hormone tăng trưởng tốt nhất khi ngủ trước 10 giờ. Và nếu bạn để trẻ đi ngủ muộn hoặc ngủ sau 22h đêm thì sự tiết hormone tăng trưởng ở cơ thể sẽ bị thay đổi. Theo: suckhoevadoisong
5 thực phẩm gây hại cho não trẻ
Thứ sáu, 28 Tháng 9 2012 15:29
Quẩy, bỏng ngô hay trứng muối đều là những món ăn nên tránh nếu bạn không muốn con mình giảm khả năng tư duy. 1. Đồ ăn quá mặn Đồ ăn quá mặn không chỉ dẫn đến bệnh cao huyết áp, xơ cứng động mạch mà còn gây tổn hại cho các mạch máu, ảnh hưởng đến việc cung cấp máu cho não khiến các tế bào thần kinh của não bé bị thiếu oxi, về lâu dài sẽ làm trí nhớ của bé bị giảm sút, giảm khả năng tư duy. Các bác sỹ đã chỉ ra lượng muối cần thiết cho cơ thể như sau: người trưởng thành mỗi ngày dùng không quá 7g, trẻ em không quá 4g. Vì vậy, bố mẹ nên chú ý hạn chế cho bé ăn các món có vị mặn như dưa muối, thịt muối, một số loại nước tương, nước mắm. 2. Đồ ăn có nhiều mì chính Các nghiên cứu y học đã chứng minh nếu bà bầu thường ăn món ăn có mì chính trong thời gian mang thai sẽ làm bé trong bụng bị thiếu kẽm, bé 1 tuổi hay ăn món có thêm mì chính gây hủy hoại tế bào não của bé. Tổ chức y tế khuyến cáo rằng: người trưởng thành mỗi ngày không nên hấp thu vào cơ thể nhiều hơn 4g mì chính, phụ nữ mang thai và trẻ em dưới 1 tuổi càng phải cẩn thận. Với các bé ở độ tuổi lớn hơn cũng nên hạn chế tối đa loại gia vị này. 3. Đồ ăn có nhiều chất béo bị oxy hóa Hấp thụ quá nhiều chất béo bị oxy hóa vào cơ thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đại não, khiến bé kém thông minh so với các bạn cùng lứa tuổi. Các loại thịt sấy khô, các đồ được chiên, rán qua dầu mỡ là những loại thực phẩm chứa nhiều chất béo bị oxy hóa. Bạn nên giảm số lượng và tần suất xuất hiện của loại thực phẩm này trong thực đơn hàng ngày của bé. 4. Đồ ăn có chứa chì Chì là chất rất độc hại, y học đã chứng minh rằng chì là “sát thủ” của các tế bào não, gây tổn thương nghiêm trọng cho đại não. Bắp rang, bỏng ngô, trứng muối, bia là những thực phẩm chứa tương đối nhiều chì, bạn nên cho bé ăn càng ít càng tốt. 5. Đồ ăn có chứa alumin Thường xuyên cho bé ăn thực phẩm có hàm lượng alumin cao sẽ dẫn đến chứng suy giảm trí nhớ, bé phản ứng chậm chạp, không linh hoạt thậm chí còn gây nên bệnh thiểu năng trí tuệ. Vì vậy, tốt nhất bạn không nên cho bé ăn quẩy hoặc các loại bánh chiên, rán qua dầu mỡ, đây là những thực phẩm có chứa nhiều alumin. Nguồn: Bảo Hân - TTVN
Bé 3 tuổi 3 tháng, nặng 13kg, cao 98cm có bị suy dinh dưỡng không?
Thứ sáu, 28 Tháng 9 2012 13:58
Bác sĩ ơi, cháu nhà tôi được 3 tuổi 3 tháng nhưng chỉ nặng 13kg, cao 98cm. Như vậy là cháu bị suy dinh dưỡng độ mấy ạ? Cháu rất biếng ăn, một bát cơm mất hơn 1 tiếng đồng hồ. Cả ngày uống khoãng 300ml sữa, 1 hộp sữa chua, trái cây, bé gần 1 năm nay không lên được cân nào, rất hay ho và sốt, tịt mũi không thở được. Bác sĩ cho em lời khuyên được không?
Đọc thêm...Lượng thức ăn bổ sung cho trẻ từ 9 đến 11 tháng tuổi
Thứ năm, 27 Tháng 9 2012 16:51
Khi con bạn được 9 tháng, việc tăng số lượng và sự đa dạng của thức ăn là vô cùng quan trọng. Khi chế biến và cho trẻ ăn thức ăn bổ sung, nhớ đảm bảo những điều sau: Tần suất: Cho trẻ ăn bổ sung 3 - 4 bữa/ngày. Xen giữa các bữa chính, bạn cũng cần cho trẻ ăn thêm các bữa phụ như hoa quả, lòng đỏ trứng luộc chín kỹ hoặc sữa chua khoai lang luộc và cà rốt.. Bạn có thể cho trẻ ăn 1-2 bữa phụ/ngày. Số lượng: Tăng dần lên từ một nửa (1/2) bát đến ¾ bát 250 ml mỗi bữa (Chỉ cho bà mẹ thấy lượng thức ăn trong một bát). Đa dạng: Để phát triển tốt, trẻ cần được ăn nhiều loại thức ăn khác ngoài gạo. Bạn có thể làm thử theo thực đơn sau: - Bột: 2 thìa cà phê (16g) (Bột được trộn từ 1kg gạo với 50g gạo nếp và 50g đỗ xanh hoặc đỗ tương) - Thịt lợn/ cá/ tôm/thịt gà/thịt bò băm nhuyễn: 2 thìa cà phê (16g) - Rau củ nghiền( cà rốt, bí đỏ, ..) hoặc rau xanh băm nhuyễn :2 thìa cà phê (16g) - Dầu: 1 thìa (2g) - Nước lọc: ba phần tư bát con/150ml (bát 250 ml). Nước mắm: 1/2 thìa cà phê (nên dùng nước mắm được bổ sung chất sắt) không nên dùng quá nhiều nước mắm, có thể tăng gia vị bằng cách thêm vừng lạc giã nhuyễn. Hãy thay đổi các loại rau khác nhau và các loại tôm/cá/thịt mỗi bữa để làm đa dạng hương vị và kích thích trẻ ăn nhiều hơn và tiếp tục cho trẻ bú mẹ, đặc biệt vào ban đêm. Ở tuổi này (từ 9 đến 11 tháng tuổi): - Sữa mẹ vẫn cung cấp khoảng một nửa nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. - Sữa mẹ tiếp tục cung cấp kháng thể để bảo vệ trẻ ngay lập tức và về lâu dài. - Sữa mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển của não bộ và sự hoàn thiện của hệ thống tiêu hóa của trẻ Không cần cho trẻ uống loại sữa nào khác nếu bạn vẫn cho trẻ bú mẹ. Nguồn: Viện dinh dưỡng
Tất cả bà mẹ đều nên biết khi nuôi con nhỏ
Thứ năm, 27 Tháng 9 2012 16:12
Một bữa ăn đầy đủ và cân đối về dinh dưỡng cho trẻ cần có đủ các yêu cầu sau: Đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm: - Nhóm chất bột đường:bột, cháo, cơm, mỳ, bún… Đây là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần ăn và chuyển hóa chất trong cơ thể. Nhu cầu năng lượng ở lứa tuổi này là 110calo/kg cân nặng. Trẻ nặng khoảng 9 – 13 kg cần 900 – 1.300 kcal trong đó, tỷ lệ giữa các thành phần sinh năng lượng nên là: Đạm: Béo: Đường bột = 15: 20: 65.Năng lượng cần đủ cho hoạt động cơ thể của trẻ và để tích lũy giúp thúc đẩy sự lớn lên của các tổ chức.- Nhóm chất đạm: thịt, cá, tôm, cua, tào phớ, các loại đỗ hạt, đậu tương… giúp xây dựng cơ bắp, tạo kháng thể, đặc biệt là sự phát triển của các tế bào não. Với trẻ nhỏ cần ưu tiên các loại đạm động vật như: thịt, sữa, trứng, cá , tôm. . . vì chúng có giá trị cao, có đủ các axit min cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Ngoài ra đạm động vật còn giàu các yếu tố vi lượng như sắt, kẽm, vitamin A giúp cho cơ thể trẻ khỏe mạnh, tăng sức đề kháng với bệnh tật. Nên phối hợp đạm động vật với đạm thực vật (đậu đỗ, vừng, lạc…) để tạo nên sự cân đối giúp hấp thu và sử dụng đạm tốt hơn. Nhu cầu chất đạm của trẻ từ 1 – 3 tuổi là 28g/ ngày. Không nên cho trẻ ăn quá nhiều đạm vì sẽ gây gánh nặng cho gan, thận. Chất đạm chỉ phát huy tác dụng cao khi có đủ năng lượng. - Nhóm chất béo: Dầu, mỡ, bơ… vừa cung cấp năng lượng cao, làm tâng cảm giác ngon miệng lại giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K…. Mỗi bát bột, bát cháo cần cho thêm 1 -2 thìa cà phê mỡ hoặc dầu. Mỡ lợn, mỡ gà rất tốt cho trẻ vì trong thành phần các loại mỡ đó có các axit béo không no cần thiết như: axit lioleic, axit liolemc, axit arachidonic rất cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ. - Nhóm chất xơ: rau quả giúp chuyển hóa các chất và tăng cường chất đề kháng, cung cấp vitamin và khoáng chất. Rau quả có màu vàng, đỏ, da cam vừa là nguồn cung cấp caroten (tiền vitamin A) vừa là nguồn cung cấp vitamin C. Nguồn sắt tốt có trong thức ăn thực vật là đậu đỗ và các loại rau có màu xanh sẫm. Sắt có trong thức ăn động vật hấp thu tốt hơn trong thức ăn thực vật nhưng trong rau quả lại có nhiều vitamin C giúp cơ thể hấp thu và sử dụng sắt có hiệu quả hơn. Nước cũng góp phần chuyễn hóa dinh dưỡng cho trẻ. Trẻ cần nhiều nước hơn người lớn để chuyển hóa và đào thải các chất cặn bã, để điều chỉnh nhiệt độ cơ thể… Vì vậy, nếu thức ăn quá cô đặc hoặc trẻ không được uống đủ nước thì sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ cũng sẽ kém đi. Nhu cầu nước của trẻ từ 10 – 15% tính theo trọng lượng cơ thể (Trẻ nặng 10kg cần một lượng nước 1 – 1,5l/ngày). Mùa nóng, trẻ cần nhiều nước hơn mùa lạnh. Dinh dưỡng cho trẻ và an toàn thực phẩm: Thịt cá, rau quả phải tươi sống, đảm bảo an toàn không thuốc trừ sâu hay hóa chất Thức ăn chế biến sẵn như xúc xích, cá mòi, ruốc, phô mai, sữa chua… nên lựa chọn thương hiệu uy tín về chất lượng cũng như về an toàn thực phẩm. Thức ăn nấu chín nên ăn ngay. Nếu chưa dùng phải đậy nắp và để tủ lạnh, khi dùng phải nấu lại vì có một số vi khuẩn vẫn phát triển ở nhiệt độ 5 – 10 độ C. Thịt, cá và rau quả cần rửa sạch dưới vòi nước chảy, không nên cắt nhỏ và ngâm trong nước vì sẽ làm mất đi một số vitamin tan trong nước (vitamin C, nhóm B, axit folic…). Riêng rau củ như khoai tây, cà rốt thì nên rửa nhẹ nhàng trong chậu nước sau khi đã gọt vỏ để giảm thiểu vitamin hòa tan vào nước vì các vitamin thường nằm ngay dưới lớp vỏ. Thức ăn của trẻ cần chế biến từ mềm đến cứng, từ ít đến nhiều để trẻ quen dần. Nên thái, băm từ rất nhỏ đến nhỏ vừa; nấu từ rất mềm đến mềm vừa đến cứng để tạo cảm giác ngon miệng và giúp răng lợi, cơ nhai, cơ tiêu hóa phát triển. Thường xuyên thay đổi cách chế biến để tạo cảm giác ngon miệng. Hạn chế cho trẻ ăn đồ ngọt (bánh kẹo). Chỉ nên cho trẻ ăn bánh, kẹo sau bữa ăn. Sau khi cai sữa cần có chế độ ăn riêng cho trẻ, không bắt trẻ ăn chung quá sớm với người lớn sẽ ảnh hưởng tới tiêu hóa của trẻ. Giờ ăn cũng ảnh hưởng tới dinh dưỡng cho trẻ: Khoảng cách giữa các bữa ăn của trẻ (từ 1 – 3 tuổi) là từ 3 – 4 tiếng.Giờ ăn lý tưởng nhất là bắt đầu lúc 6h sáng và kết thúc lúc 20h, tức là trẻ được ăn 6 bữa một ngày trong đó có 2 bữa chính (11h và 16h30 – 17h).Bữa muộn nhất chỉ nên cho trẻ uống sữa, chứ không nên cho ăn các loại thực phẩm khác vì sẽ khiến dạ dày phải hoạt động, gây khó ngủ. Bữa sáng nên cho bé ăn đủ 3 nhóm: tinh bột (một bát mỳ, phở, bún, súp), sữa và một chút hoa quả. Nếu trẻ không bú mẹ thì bạn nên cho trẻ ăn thêm 200 – 250ml sữa vào mỗi đêm. Nếu không muốn bé ăn đêm thì bạn nên lui thời gian cho bé ăn bữa cuối lại hoặc bắt đầu bữa đầu tiên sớm hơn. Theo: Yeutretho
Thực phẩm cần kiêng cho bé bị ho
Thứ năm, 27 Tháng 9 2012 15:17
Bé không nên ăn tôm khi ho. (ảnh minh họa). Tuy không phải là chứng bệnh nghiêm trọng, song ho gây phiền phức khá nhiều cho cả bé và bố mẹ, nhất là khi bệnh kéo dài và nặng dần lên. Xuất hiện nhiều về mùa đông và mùa xuân, tuy không phải là chứng bệnh nghiêm trọng, song ho gây phiền phức khá nhiều cho cả bé và bố mẹ, nhất là khi bệnh kéo dài và nặng dần lên. Để bé nhanh khỏi và tránh các biến chứng, bố mẹ cần chú ý đến những cấm kỵ trong ăn uống dưới đây: Thực phẩm lạnh Khi trẻ bị ho không nên cho bé ăn đồ lạnh hoặc uống các loại đồ uống đông lạnh. Theo quan niệm Đông y, khi cơ thể bị nhiễm lạnh sẽ gây tổn thương cho phổi, mà ho phần lớn là do các bệnh ở phổi gây ra. Lúc này nếu ăn uống các thực phẩm lạnh dễ gây ra tắc khí ở phổi, khiến các triệu chứng càng nặng thêm. Đồng thời, các chứng viêm ít nhiều cũng có quan hệ đến tì. Nếu ăn uống quá nhiều thực phẩm lạnh, cũng có thể gây tổn thương tì vị, khiến chức năng tì bị suy giảm. Trẻ bị ho không nên uống nước lạnh. (ảnh minh họa). Thực phẩm ngọt, vị đậm Theo Đông y, ho phần lớn do phổi bị nhiệt gây ra. Hàng ngày nếu trẻ ăn quá nhiều các thực phẩm béo, ngọt, vị đậm sẽ khiến cơ thể bị bốc hoả, làm triệu chứng ho nặng hơn. Nhiều bậc cha mẹ cho rằng ăn quýt có thể chữa ho, long đờm. Tuy vỏ quýt có công hiệu trị ho, long đờm, nhưng thịt quýt lại khiến cơ thể sinh nhiệt, sản sinh ra nhiều dịch đờm hơn. Thực phẩm chiên, rán Khi trẻ em ho chức năng tiêu hóa yếu và các loại thực phẩm chiên cung cấp nhiều chất béo tạo nên gánh nặng cho hệ tiêu hóa, sinh nhiều đờm làm tình trạng ho của trẻ ngày càng trầm trọng. Cá, tôm, cua Nếu cho bé ăn các thực phẩm này khi đang bị ho, bệnh sẽ càng nặng hơn. Việc này có liên quan đến tính kích thích của vị tanh với hệ hô hấp và do trẻ bị dị ứng với chất protein trong tôm cá. Đậu phộng, hạt dưa, sô cô la Đây là nhóm thực phẩm chứa dầu có thể làm tăng lượng đờm khi ăn chúng. Do vậy, cha mẹ nên hạn chế cho trẻ ăn những thực phẩm này khi trẻ bị ho. Thực phẩm bồi bổ Không ít bậc phụ huynh cho các bé cơ thể bị suy nhược dùng thực phẩm chức năng có tác dụng bồi bổ. Tuy nhiên khi trẻ bị ho, nên dừng việc sử dụng các thực phẩm này để tránh khiến bệnh ho khó chữa trị hơn. Phương pháp cho trẻ ăn Trẻ ho nhiều có thể ói ra thức ăn vừa mới ăn xong kèm theo nhiều đờm nhớt, vì thế trước khi cho trẻ ăn nên cho uống vài muỗng nước, sau đó cho trẻ nằm sấp rồi vỗ về lưng trẻ nhằm giúp đờm nhớp không còn đọng ở cổ trẻ. Điều này giúp trẻ đỡ ho và ăn bớt ói. Thức ăn có nhiều nước giúp làm loãng đờm nhớt ở trẻ, không bị kích thích ho nhiều. Nên chia bữa ăn ra làm nhiều lần. Lúc bình thường, trẻ có thể ăn 6 lần/ngày (kể cả bữa bột và bữa sữa) nhưng lúc trẻ ho có thể tăng từ 8-10 lần/ngày, mỗi lần ăn một ít, đo đó có thể cách khoảng 2 giờ cho trẻ ăn 1 lần. Theo: webphunu
Thực phẩm cho bé thông minh hơn
Thứ năm, 27 Tháng 9 2012 14:42
Ảnh minh họa. Khi lên thực đơn cho bé, đừng quên rằng sự phát triển trí tuệ của bé phụ thuộc vào những gì bé ăn. Những nghiên cứu khoa học mới nhất đã chứng minh rằng sự ăn uống cân bằng, khoa học và những thực phẩm “đúng” có thể giúp trẻ trở nên thông minh hơn, siêng năng hơn và tập trung hơn. Những “viên gạch đầu tiên” Ngay từ khi bé còn trong bụng mẹ đã nên bắt đầu chăm sóc đến “thực đơn” cho bé. Trong thời gian mang bầu người mẹ nên ăn những thực phẩm giàu lesitin – chất có tác động và ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển trí thông minh, củng cố trí nhớ. Chất này chứa nhiều nhất trong lòng đỏ trứng, gan và thịt. Đừng bỏ qua những thực phẩm chứa nhiều chất sắt và kẽm (như gan, trứng, hạt dẻ, đại mạch nâu, phô mai, cá, sữa). Cá trong thực đơn của bà bầu cũng ảnh hưởng tốt tới khả năng trí tuệ của bé: các nhà khoa học nhận xét rằng nếu người mẹ ăn nhiều cá thì sẽ có cơ hội sinh con thông minh. Cá trong thực đơn của bà bầu là thực phẩm cho bé thông minh hơn. (Ảnh: imagine). Không chỉ di truyền Chúng ta không nghi ngờ những thành tựu của di truyền học và đồng ý rằng tài năng và trí tuệ của con người trước hết phụ thuộc và những yếu tố di truyền. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể giúp những gien cần thiết “tỏa sáng” với sự giúp sức của những thực phẩm mà chúng ta cho trẻ ăn hàng ngày. Có điều là không giống với những cơ quan khác của cơ thể, não bộ luôn đổi mới và chuyển đổi cơ cấu. Nó chỉ chiếm 2% cơ thể, nhưng đòi hỏi năng lượng tới 20%. Cơ quan “tham ăn” này không chỉ đòi hỏi năng lượng. Nó sẽ không hoạt động bình thường, nếu không nhận đủ chất bổ và các yếu tố vi lượng. Như các chuyên gia khẳng định gần như 100% trẻ em không được nhận các chất dinh dưỡng một cách đầy đủ! Đây là một con số thống kê đáng buồn, nhưng may mắn là việc thay đổi nằm trong tầm tay của bạn. Thực đơn đủ dinh dưỡng Những tháng đầu tiên trong đời bé nhận đủ tất cả những chất cần thiết từ sữa mẹ. Những nghiên cứu mới nhất đã chỉ ra rằng sữa mẹ không chỉ tăng sức đề kháng mà còn tăng cả trí tuệ của trẻ nữa. Vì thế cần cho bé bú mẹ càng lâu càng tốt. Từ 1 tuổi bé có thể ăn thức ăn của “người lớn”. Vậy những thực phẩm nào có thể cho bé ăn được, để giúp trí tuệ của bé phát triển một cách tốt nhất? I ốt I ốt có ý nghĩa đặc biệt cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Ở những nước thiếu i ốt tự nhiên, chỉ số trí tuệ trung bình của người dân kém hơn các nước khác có i ốt đầy đủ từ 10 đến 15%. Nếu như bé nhận không đầy đủ lượng i ốt thì hậu quả có thể nhận thấy chỉ khi bé bắt đầu tới trường và mang điểm kém về nhà. I ốt có ý nghĩa đặc biệt cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng không được tự động cho bé uống i ốt, nếu không có tư vấn của bác sĩ! Việc này có thể làm hại sức khỏe của bé. Dùng muối chứa i ốt trong nấu ăn thì an toàn hơn. Omega-3 Omega-3 những a xít béo không bão hòa. Hãy cho bé ăn nhiều cá và hải sản. Những thực phẩm này chứa chất phốt pho và a xít béo omega-3 cần thiết cho hoạt động có hiệu quả của bộ não. Những a xít kỳ diệu này làm nhẹ quá trình chuyển những tín hiệu thần kinh giữa các nơron não bộ, và cần thiết cho việc hình thành tế bào thần kinh. Nhờ đó, sự chú ý, trí nhớ, khả năng tập trung của bé dần phát triển hơn. Sắt Sắt nhà “bác học bé nhỏ” cần phải nhận được chất sắt qua thức ăn. Trẻ thiếu chất sắt thường vô tâm trước tất cả, thờ ơ, không tập trung. Chất sắt có trong thịt, gan, đại mạch nâu, kê, các loại đậu, bánh mỳ… Vì sao cơ thể thường thiếu chất sắt? Khi chất béo, canxi, và phốt pho thừa sẽ gây cản trở việc hấp thụ chất sắt của cơ thể. Vì thế không nên ăn chung thịt và sữa, phô mai. Cả chất tanin cũng cản trở việc hấp thụ sắt, vì thế không nên uống trà và cà phê trong bữa ăn có thịt. Chất sắt có trong các loại rau củ, trái cây, ngũ cốc và hạt dẻ được hấp thụ tốt hơn cùng với vitamin C, vì thế khi ăn cháo kê hay đại mạch nâu nên uống thêm cuốc nước hoa quả sẽ rất tốt. Kẽm Chất kẽm rất có ích cho não bộ, vì kẽm giúp bảo vệ các tế bào trước những tác động có hại, ảnh hưởng tới trao đổi chất, tham gia vào hình thành mô não bộ, kiểm soát, tổng hợp những chất đạm phụ trách về trí nhớ và học tập. Khi thiếu chất vi lượng này cơ thể không có biểu hiện gì đặc biệt, nên chúng ta rất khó nhận biết để kịp thời bổ sung. Nếu như bạn nhận thấy bé bắt đầu nhìn kém trong bóng tối và nheo mắt, dù không có rối loạn thị giác rõ rệt nào, hãy cho bé đi thử máu. Nếu phát hiện ra bé thiếu kẽm, hãy bổ sung vào thực đơn của bé gan, thịt, trứng, nấm, ngũ cốc và các loại hạt dẻ, hạt bí đỏ và hạt vừng. Những thực phẩm tốt nhất - Cá hồi: nguồn cung cấp a xít béo, omega-3. - Quả việt quất: Nhờ chứa nhiều vitamin và các chất chống ô xy hóa, quả việt quất tác dụng rất tốt tới trí nhớ. - Quả hồ đào: Làm tăng tượng serotonin – chất tác động tốt tới hệ thần kinh trung ương. - Sô-cô-la đen: Tác động tốt tới hoạt động của bộ não, và có khả năng làm tâm trạng tốt lên nhanh. - Trứng: Trứng có chứa chất Cholin – chất đặc biệt quan trọng cho hoạt động của bộ não. Nó giúp tăng cường sự tập trung. - Bơ: Chứa nhiều a xít đơn bão hòa làm tăng tuần hoàn máu cho các mô não bộ. Hành lượng kali cao, làm họat động tâm lý và thần kinh tốt hơn. Thêm lời khuyên cho mẹ - Không cho trẻ ăn những thực phẩm đóng hộp, có chứa chất bảo quản như xúc xích, cá, thịt hộp, nước uống có ga… - Không tự ý cho bé uống thuốc (kể cả thuốc bổ), mà không có sự tư vấn của các bác sĩ. Theo: Me va Be
Ăn gì khi trẻ mắc bệnh nhiểm khuẩn?
Thứ năm, 27 Tháng 9 2012 14:12
Những bệnh Nhiễm khuẩn nào hay gặp ở trẻ nhỏ? Nhiễm khuẩn đường hô hấp: Viêm mũi họng Viêm VA Viêm Amidal Viêm tai giữa Viêm phế quản Viêm phổi… Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa: Lỵ Tiêu chảy cấp Tiêu chảy kéo dài… Tại sao phải chú ý đến chế độ ăn uống khi trẻ mắc bệnh Nhiễm khuẩn? Khi trẻ bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt tăng 1 độ C thì chuyển hóa cơ bản tăng hơn 10%, do đó nhu cầu về năng lượng cũng tăng. Khi sốt, cơ thể cũng mất rất nhiều nước và chất điện giải qua da, đường thở, mất vitamin qua phân, nước tiểu …nên nhu cầu về nước, vitamin và chất khoáng tăng lên rất nhiều. Khi sốt cao trẻ biếng ăn do giảm tiết men tiêu hóa. Khi bị Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa trẻ cũng mất nhiều nước điện giải, hấp thu các chất dinh dưỡng kém. Khi trẻ bị bệnh không được ăn uống đầy đủ sẽ dẫn đến những hậu quả gì? Trẻ lâu khỏi bệnh Thiếu các vi chất dinh dưỡng, thiếu các chất dinh dưỡng dẫn đến chậm lớn, suy dinh dưỡng và bệnh do thiếu các chất dinh dưỡng dẫn đến chậm lớn, suy dinh dưỡng ví dụ: thiếu máu, khô mắt, thiếu kẽm… Cho trẻ ăn uống như thế nào khi mắc bệnh Nhiễm khuẩn? Chia nhỏ bữa ăn trong ngày. Nấu các món ăn mềm, dễ tiêu hóa, hấp thu, giàu dinh dưỡng: Cháo, súp, sữa, nước trái cây. Thường xuyên thay đổi món ăn để hợp với khẩu vị của trẻ. Bổ sung thêm men tiêu hóa từ thực phẩm: giá đỗ, các hạt nẩy mầm để tăng thêm năng lượng, hóa lỏng thức ăn. Trẻ còn bú mẹ: tăng thêm bữa bú và thời gian bú. Trẻ không bú được vắt sữa mẹ cho ăn bằng thìa. Cho trẻ uống thêm nhiều nước: nước hoa quả tươi, nước bổi phụ nước và điện giải: oresol pha đúng cách. Khi khỏi ốm cho trẻ ăn tăng thêm bữa và ăn như bình thường. Những thực phẩm nào không nên dùng khi trẻ mắc bệnh Nhiễm khuẩn? Thức ăn thô nhiều chất xơ: ngô hạt, đậu đỗ nguyên hạt, rau cần, rau bí, măng… Nước ngọt có ga, tránh ăn đồ lạnh khi trẻ bị viêm họng: kem, thức ăn quá nguội lạnh. Những loại thực phẩm nào nên dùng khi trẻ mắc bệnh Nhiễm khuẩn? Gạo, khoai tây, các loại rau quả có màu vàng và đỏ, xanh thẫm, giá đỗ xanh. Thịt gà, bò, thịt thăn lợn, trứng, sữa. Dầu thực vật, mỡ gà, mỡ lợn. Các loại quả tươi: Cam, bưởi, chuối, xoài, đu đủ, nước dừa… Những sai lầm nào về ăn uống các bà mẹ hay mắc khi trẻ bị bệnh Nhiễm khuẩn? Không tăng cường số bữa ăn mặc dù mỗi bữa trẻ chỉ ăn rất ít hoặc bỏ ăn. Kiêng cho dầu mỡ vào bột, cháo của trẻ khi trẻ bị sốt, tiêu chảy. Kiêng cho trẻ ăn thịt gà khi trẻ bị sốt có ho, kiêng ăn cá, tôm, cua vì sợ trẻ càng ho nặng thêm. Nguồn: Vien Dinh Duong
Dinh dưỡng cho bé biếng ăn
Thứ tư, 26 Tháng 9 2012 16:05
Ngày 26/09/2012 Câu hỏi: Con gái tôi 8 tháng tuổi, nặng 7kg và rất biếng ăn. Xin bác sĩ tư vấn dinh dưỡng giúp cháu.
Đọc thêm...Trang 29/38
Hotline
1900.2088